Wednesday, April 25, 2018

30/4/1975: Ngày cỏ độc và loài man dại lên ngôi

Từ độ ngươi về hỡi loài man dại!
Dẫu vô tri sỏi đá cũng buồn đau
Vũ Hoàng Chương

Chu Chi Nam - Vũ Văn Lâm (Danlambao) - Đức Đạt Lai Lạt Ma, khi nói về cộng sản, Ngài đã đưa ra nhận định: "Cộng sản là loài cỏ dại mọc trên hoang tàn của chiến tranh, là loài trùng độc, sinh sôi nẩy nở trong rác rưởi của cuộc đời".

Trên hoang tàn của Đệ Nhất Thế Chiến (1914-1918), Lénine đã được Bộ Tham Mưu Đức đưa về cướp chính quyền ở Nga. Cũng lợi dụng thời cơ hoang tàn sau Đệ Nhị Thế Chiến (1939-1945), Hồ chí Minh đã được Cộng sản Liên Sô và Trung Cộng đưa về cướp chính quyền ở Việt Nam vào ngày 19/08/1945.

Trước đây hơn 60 năm, cụ Phan Khôi (1887 - 1959) cũng đã sáng suốt nhận ra sự độc hại của Cộng sản. Vào năm 1956, trong truyện ngắn “Cây cộng sản”, cụ Phan Khôi mô tả loại cây này như sau: “...Có một thứ thực vật cũng như sen Nhật Bản ở xứ ta, trước kia không có mà bây giờ có rất nhiều. Đâu thì tôi chưa thấy, chỉ thấy ở Việt Bắc không chỗ nào là không có.”

Theo cụ, có nơi gọi loại cây nầy là “cỏ bọ xít”, vì nó có mùi hôi như con bọ xít, có nơi gọi là “cây cứt lợn”, hoặc “cây chó đẻ”. Cụ nói rằng những tên đó đều không nhã nhặn tý nào, người có học không gọi như vậy, mà nên gọi là “cây cộng sản". Không mấy lâu rồi nó mọc cả đồn điền, trừ khử không hết được, nó lan tràn ra ngoài đồn điền. Cái tình trạng ấy bắt đầu có những năm 1930-1931 đồng thời với Đông Dương Cộng sản Đảng họat động, Phong trào cộng sản cũng lan tràn nhanh chóng như thứ cây ấy, cũng không trừ khử được như thứ cây ấy, cho nên bọn Tây đồn điền đặt tên nó là “herbe communiste”, đáng lẽ dịch là cỏ cộng sản, nhưng nhiều người gọi là cây cộng sản. Nó còn có một tên rất lạ... Ông già Thổ mà Phan Khôi hỏi chuyện tên nó là cây gì, ông nói tên nó là “cỏ cụ Hồ”. "Thứ cỏ nầy trước kia ở đây không có, từ ngày cụ Hồ về đây lãnh đạo cách mạng, thì thứ cỏ ấy mọc lên, không mấy lúc mà đầy cả đường sá đồi đống, người ta không biết tên nó là gì, thấy nó cùng một lúc với cụ Hồ về thì gọi nó như vậy…”

Thật vậy, từ ngày Hồ chí Minh được Đệ Tam Quốc tế Cộng sản, với sự trợ giúp của đảng Cộng sản Tàu, về Việt Nam cướp chính quyền vào ngày 19/08/1945, sau đó đọc bản Tuyên ngôn độc lập ngày 02/09. Trên thực tế họ Hồ đã đặt nước ta vào trong gông cùm cộng sản, biến nước ta thành bãi chiến trường của cuộc tranh hùng tư bản - cộng sản, dân tộc Việt trở thành nạn nhân. Họ Hồ và đảng Cộng sản đã đưa nước Việt từ trận chiến này qua trận chiến khác, từ cuộc chiến 1946-1954, cuộc chiến 1954-1975, cuộc chiến bên Căm bốt 1978, cuộc chiến với Trung cộng 1979, làm cho máu dân Việt chảy thành sông, xương người Việt chất thành núi.

Không những ngoại chiến, mà còn nội chiến triền miên, vì họ Hồ nhập cảng lý thuyết Mác-Lê, chủ trương bạo động lịch sử, đưa đến cảnh con đấu cha, vợ tố chồng, bạn bè tìm cách mưu hại lẫn nhau, qua những cuộc đấu tố trong chiến dịch Cải cách ruộng đất (1953-1956) hay sát hại trí thức như vụ Nhân văn giai phẩm năm 1956.

Sau cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân 1968 bị thất bại và Hồ chí Minh chết vào năm 1969, Đảng Cộng sản Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Lê Duẩn tiếp tục tinh thần vọng ngoại của họ Hồ, tuân theo chiến lược tấn công các nước tư bản một cách gián tiếp của Breschnew cũng như lợi dụng sự ra đi của người Mỹ, tinh thần hoảng loạn của quân dân miền Nam, đảng Cộng sản Việt Nam đã dốc toàn lực tấn công và cưỡng chiếm miền Nam vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Sau khi chiếm được miền Nam, người cộng sản không biết làm gì ngoài việc trả thù và cướp bóc tài sản của dân miền Nam. Qua chiêu bài học tập cải tạo, hàng trăm ngàn quân, cán, chính, văn nghệ sĩ miền Nam đã bị lùa vào trại tập trung, nhiều người bị sát hại giam cầm cả chục năm. Hàng triệu người bị cướp nhà cửa, tịch thu tài sản và bị lùa đi vùng kinh tế mới, chưa kể cả nửa triệu người vùi thây dưới đáy biển trên đường vượt biên. Hận thù, tang tóc đổ lên đầu không biết bao nhiêu triệu người. Trong giòng sử Việt, chưa có một thời đại nào, chưa có một chế độ tàn ác nào mà người dân phải bỏ xứ ra đi. Trước thảm cảnh trước sau chưa có, cố thi sĩ Vũ Hoàng Chương (1916 – 1976) đã phải thốt lên: 

"Từ độ ngươi về hỡi loài man dại.
Dẫu vô tri, sỏi đá cũng buồn đau.
Tiếng thở dài vang tận đáy sông sâu,
Màu đỏ oan cừu hành hung phố chợ."

Trong khi "loài man dại" đang say men chiến thắng thì cũng có những người cộng sản còn lương tri, như Nhà văn Dương thu Hương, người đã từng theo đoàn quân chiến thắng vào miền Nam, khi thấy xã hội miền Nam nhân bản, phát triển, sung túc, bà đã tìm một góc phố, như lời bà tường thuật, bật lên tiếng khóc và than rằng: Tôi ở cùng trong đoàn quân chiến thắng nhưng mô hình xã hội của kẻ chiến thắng lại là man rợ, trong khi đó mô hình xã hội của kẻ chiến bại lại là văn minh.

Đảng cộng sản Việt Nam không những làm khổ dân Việt, sát hại người Việt, mà còn đưa đất nước vào vòng lệ thuộc ngoại bang, trước đó thì lệ thuộc Liên Sô, ngày hôm nay thì lệ thuộc Trung Cộng. Chính tên đầu sỏ của loài man dại là Lê Duẫn đã trâng tráo tuyên bố: “ Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc.” Ngày nay thì tất cả những quyết định chính trị quan trọng đều phải được sự chấp nhận của Trung Cộng. Hàng hóa phim ảnh Trung cộng tràn ngập thị trường Việt Nam, giết chết nền kinh tế Việt, làm thui chột văn hóa Việt. Ngày hôm nay trên thực tế Việt Nam chỉ là một quận huyện của Trung Cộng, đảng Cộng sản Việt Nam, bạo quyền cộng sản Việt Nam chỉ là những thái thú của Tàu.

Đất Việt là do bao công lao, xương máu của ông cha ta mà có được nhưng bọn cộng sản Việt Nam, bắt đầu từ Hồ chí Minh lại bán nước, dâng đất, nhượng biển cho Trung Cộng.

Việc dâng đất nhượng biển đã bắt đầu từ thời Hồ chí Minh. Vào những năm đầu của thập niên 50, khi sửa đường xe lửa ở biên giới Việt Hoa, Trung cộng đã tự động rời những cột mốc ở biên giới về phía nam, lấn đất Việt Nam, báo Nhân dân của cộng sản thời đó có lên tiếng phản đối nhưng là chỉ lấy lệ. Rồi tiếp tục với công hàm của Phạm văn Đồng đề ngày 14/09/1958, trả lời công hàm của Chu ân Lai có đính kèm bản đồ nói là 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Cộng. Chính vì vậy mà Trung Cộng đòi chủ quyền về 2 quần đảo này mặc dầu theo công pháp quốc tế, lịch sử, địa lý, thì 2 quần đảo này là hoàn toàn thuộc về chủ quyền Việt Nam. Việc dâng đất, nhượng biển còn tiếp tục với Lê khả Phiêu, qua 2 Hiệp ước ký với Trung Cộng năm 1999. Sau đó thì Nông đức Mạnh, Nguyễn tấn Dũng cho thuê rừng vùng biên giới, cho Trung Cộng khai thác quặng bô xít ở cao nguyên trung phần, xương sống về địa lý chiến lược quân sự của Việt Nam, dọn đường cho Trung Cộng đánh chiếm Việt Nam trong tương lai. Ngày hôm nay Nguyễn phú Trọng, trong thì thẳng tay trấn áp các cá nhân, tổ chức tranh đấu cho Tự do – Dân chủ: ngoài thì cấu kết ăn chia với hãng xưởng ngoại quốc mặc tình để cho ngoại nhân thải chất độc, trước thì giết dân sau gây ô nhiễm môi trường. Nguyễn phú Trọng còn có dã tâm học theo họ Tập bên Tàu, mượn danh chống tham nhũng để loại trừ và tịch thu tài sản những kẻ không theo mình, muốn xây dựng một chế độ Độc Tài Cộng Sản toàn diện, kiểm soát mọi hành động của đời sống con người và xã hội, từ lãnh vực triết học, tư tưởng, chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, đến thông tin, tuyên truyền.

Đảng Cộng sảnViệt Nam, bắt đầu từ Hồ chí Minh đến những kẻ thừa kế, đã phạm một lỗi lầm chưa từng có trong lịch sử Việt, là đã nhẫn tâm tiêu diệt mọi thành phần, nhân sĩ, trí thức, kể cả những người cộng sản không cùng đường lối với mình. Hành động vô lương "Trí Phú Địa Hào, đào tận gốc trốc tận rễ" qua những cuộc cải cách ruộng đất, tiêu diệt văn hóa đồi trụy, đánh tư bản mại bản,... đã tạo ra những trận cuồng phong đảo lộn cả quốc gia - dân tộc. Bắt đầu từ chủ trương bạo động lịch sử, vì thế trong các nước cộng sản vẫn xẩy ra thường xuyên tranh chấp nội bộ, bất ổn xã hội, khắp nơi đều có kẻ thù, Việt Nam hiện tại cũng không thoát khỏi quy luật và tình trạng này.

Đây là một thảm nạn, một đại họa của dân Việt. Đại họa này đã kéo dài hơn nửa thế kỷ, nếu chúng ta tính từ năm 1954 và nó có viễn tượng đưa việt nam thành một quận huyện của nước láng giềng to lớn, trở về thời kỳ Bắc thuộc lần thứ 5 do âm mưu toa rập, tham vọng bám quyền của đảng Cộng Sản Việt Nam. Bởi lẽ đó, chúng ta, trong cũng như ngoài nước, phải có can đảm đứng lên đấu tranh để sống còn, để tự cứu, vì nước Việt, từ ải Nam quan đến mũi Cà Mâu, là gia tài chung mà cha ông chúng ta đấu tranh và bảo tồn bằng xương máu, mồ hôi nước mắt mới có được. Chúng ta, muôn người như một quyết tâm đập tan dã tâm cùng mưu đồ bán nước của đảng Cộng sản Việt Nam.

Paris 24/4/2018

Rối như canh hẹ!

Hưng Yên (Danlambao) - Thật đấy các vị, "đảng ta" đến ngày mạt rệp rồi hay sao mà càng ngày nó càng rối tinh rối mù lên không biết đàng nào mà lần y chang như một nồi canh hẹ! Các vị biết không? Việt Nam ta có câu thành ngữ "Rối như canh hẹ" để chỉ việc nọ xoắn với việc kia, không thể tách rời nhau ra được, sao mà nó giống với "Đảng ta" lúc này thế không biết! Bác Tổng Trọng đốt lò thiêu mấy thằng tham nhũng. Mới đầu tưởng chỉ có mấy anh như Đinh La Thăng, Trịnh Xuân Thanh và một đám lóc nhóc khác, không ngờ chúng ló đầu ra một lô một lốc coi bộ còn nặng ký hơn Đinh La Thăng với Trịnh Xuân Thanh nhiều!

Mới đây báo chí ồn lên cái vụ mấy vị Tướng công an - những thanh bảo kiếm bảo vệ Đảng - cũng bị Bác Tổng Trọng lôi cổ ra tòa vì tội "ăn bẩn và làm đầu nậu cờ bạc hàng ngàn tỉ" thế thì còn trời đất nào nữa, báo chí đăng rõ ràng chứ không phải chúng tôi đặt điều nói xấu "Đảng" đâu đấy nhé. Xin các vị cứ đọc đoạn trích dưới đây thì rõ.

Trích:

Bộ Công an Việt Nam chính thức xác nhận một trong những tướng công an nổi tiếng nhất Việt Nam, đã nghỉ hưu, bị khởi tố vì liên quan đường dây đánh bạc ngàn tỉ.

Trang web Bộ Công an cuối ngày 6/4 cho hay ông Phan Văn Vĩnh đã bị công an tỉnh Phú Thọ khởi tố bị can, bắt tạm giam bốn tháng.

Cùng ngày 6/4, Chủ tịch nước Việt Nam đã ký Quyết định tước danh hiệu Công an nhân dân đối với ông Phan Văn Vĩnh.

Ngưng Trích

Phan Văn Vĩnh là trung tướng công an đã một thời lập được nhiều công trạng, được báo chí của Việt cộng hết lòng khen ngợi, đưa lên đến tận mây xanh. Mà cứ theo quy định của Đảng thì tất cả, từ bé đến lớn, từ chú công an giao thông đứng đường đứng chợ lên đến ông Chủ Tịch Nước đều phải là đảng viên của "đảng ta" mới được, còn nếu không thì đi chỗ khác chơi! Thế rồi "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý"... Chịu khó suy nghĩ một chút ta lại thấy "Đảng" với "Nhà nước" cũng chỉ là các hắn với nhau chứ ai vào đấy phải không các vị? Cuối cùng ta ngộ ra được một điều cái "Đảng" này nó xảo trá và tham lam vô cùng vô độ các vị ạ. Hai tay nó "ôm" lấy tất cả nhưng mồm lại thơn thớt: "Nhân dân làm chủ". Làm chủ gì mà ruộng vườn, đất đai của người ta tự dưng nó thu hồi với quy hoạch? Mới đây ông "Thủ Tướng ma de in" của các hắn còn mầu mè kêu lên:

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu xử lý nghiêm người đứng đầu buông lỏng quản lý đất đai: Chỉ thị mới về chấn chỉnh, tăng cường công tác quản lý đất đai và xây dựng hệ thống thông tin đất đai, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu chủ tịch Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm tập trung chỉ đạo rà soát, đánh giá đầy đủ tình hình triển khai thi hành pháp luật về đất đai ở các cấp, các ngành, trên cơ sở đó có kế hoạch, biện pháp cụ thể để chấn chỉnh, xử lý, khắc phục kịp thời những tồn tại trong việc thực hiện từng nội dung nhiệm vụ quản lý đất đai ở địa phương....

Một cái "lệnh" vừa mập mờ, vừa chung chung chẳng có gì dứt khoát rõ ràng cả, phải không các vị?

Đất đai, ruộng vườn của người ta do bao nhiêu đời ông cha để lại, bây giờ tự dưng các anh tuyên bố làm chủ tập thể do các anh quản lý. Thế rồi nay các anh đòi "thu hồi" chỗ này, mai các anh tuyên bố "quy hoạch" chỗ kia... Cuối cùng là các anh đem bán cho bọn tư bản nước ngoài. Của người ta đáng giá 100 đồng, các anh thí cho 1 đồng, còn bao nhiêu các anh bỏ túi. Cuối cùng là người dân chết đói, còn các anh thì cứ giầu lên ú ụ. Rõ ràng Toàn là một lũ ăn cướp, ăn bám!

Cũng trên Net chúng tôi còn đọc được một đoạn trong một bài viết như thế này. Lại xin trích ra đây để mọi người cùng đọc và cùng đánh giá.

Trích:

Những ông tướng Phan Văn VĩnhNguyễn Thanh Hoá trượt ngã vào thời điểm khá điển hình, khi toàn Đảng toàn Dân đồng tâm hiệp lực đấu tranh bài trừ giặc nội xâm; khi lò lửa đốt cháy tham nhũng, tha hoá, tiêu cực đang đến độ; khi cán bộ chiến sỹ toàn lực lượng công an ngày ngày học tập và làm theo tấm gương đạo đức, tư tưởng Hồ Chí Minh, thấm nhuần 6 điều Người căn dặn công an nhân dân... Đây cũng là giai đoạn xảy ra nhiều vụ án sử dụng công nghệ cao để đánh bạc, lừa đảo, rửa tiền khiến nhiều gia đình tiêu tán, xã hội bất an.

Ngưng trích

Ừ, bậy nhỉ, khi cán bô chiến sĩ toàn lực lượng công an ngày ngày học tập và làm theo, tư tưởng Hồ Chí Minh thì cái đám to đầu ngồi tít trên cao: Toàn các đồng chí bộ chính trị, uy viên trung ương đảng, bí thư nọ, chủ tịch kia... thi nhau vơ vét! Có đúng thế không hay bắt chúng tôi phải kể ra từng tên một? Những vị mới đây bị Bác Tổng Trọng xách cổ lôi ra tòa khóc khóc mếu mếu ai cũng biết cả rồi. Nhưng còn thiếu gì các vị khác nữa như... Đồng chí Ba Ếch đấy thì sao, của cải đâu ra mà lắm thế, chỉ nguyên một cái "nhà thờ tổ" thôi đã đủ để được kể vào hàng phú gia địch quốc rồi. Kế đến là anh con ngoại hôn của Chủ tịch vĩ đại sống mãi trong quần chúng ta là đồng chí Nông... văn phu. Đồng chí về vườn đã lâu rồi mà còn tiếp khách ngồi trên những cái ghế như "ngai Vua" đấy thì đã sao? Bác Tổng Trọng giỏi làm gì thì làm đi?!

Nghe Bác Tổng Trọng "đe" không chỉ những tay còn đang tại chức mà dù đã về hưu lâu rồi, thậm chí đã "ngỏm củ tỏi" rồi mà có tội cũng vẫn cứ bị dựng đầu dậy lôi ra tòa như thường! Nghe câu này sao chúng tôi thấy "hồ hởi phấn khởi" quá sức. Nghĩ ngay đến sẽ có một ngày cái lão đang "mơ màng giấc điệp trong cái được gọi là "lăng" ở công viên Ba Đình đấy bị xích tay lôi ra tòa vì "lão" này mới thực sự là "Chúa đảng". Bao nhiêu những khốn khổ, khốn nạn của nhân dân ta suốt từ Bắc chí Nam đều từ lão này mà ra cả. Nào là cái đợt gọi là "Cải cách ruộng đất" ở miền Bắc nước ta năm 1954. Biết bao người bị quy cho cái tội là địa chủ bóc lột rồi bị bắn chết, bị chôn sống. Ngay cả một người lý ra được kể là người có công với cách mạng vì đã cúng cho Bác nào vàng, nào tiền vẫn bị lôi ra đấu tố như thường. Lang thang trên Net, chúng tôi đọc được một bài có đoạn viết như thế này, xin trích ra đây để mọi người cùng đọc:

Trích:

“Nguyễn thị Năm tức Cát Thành Long có một người con làm trung đoàn trưởng ở cục chính trị của Văn Tiến Dũng. Gia đình bà trong dịp Tuần lễ Vàng có hiến 100 lượng vàng. Bà còn tham gia công tác của Hội Phụ nữ từ năm 1945 đến 1953. Tôi chưa đến đó lần nào, các anh Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Đức Thọ thường hay ăn cơm ở nhà bà. Gia đình Nguyễn thị Năm cũng giống như các gia đình Đỗ Đình Thiện, Trịnh Văn Bô giúp đỡ nhiều cho cách mạng. Chọn địa chủ Nguyễn thị Năm để làm trước là do có người mách cho cố vấn Trung quốc. Họp bộ chính trị bác nói: “Tôi đồng ý người có tội thì phải xử thôi, nhưng tôi cho là không phải đạo nếu phát súng đầu tiên lại nổ vào người đàn bà, mà người ấy lại cũng giúp đỡ cho cách mạng. Người Pháp nói không nên đánh đàn bà, dù chỉ đánh bằng một cành hoa”. Sau cố vấn Trung quốc là La Quý Ba đề nghị mãi, bác nói:“Thôi tôi theo đa số, chứ tôi vẫn cứ cho là không phải”. Và họ cứ thế làm. Thuyết của họ là không dựa vào tổ chức cũ mà tổ chức lại một số tổ chức khác của đảng, họ phủ nhận hết các tổ chức khác như chính quyền, các đoàn thể. Ai lãnh đạo cách mạng tháng 8 thành công, ai lãnh đạo cuộc kháng chiến từ năm 1945 đến năm 1953. Thế mà họ thẳng tay bỏ hết, trong đó mấy ngàn người bị xử tử. Mục đích của họ không phải là CCRĐ mà là đánh vào đảng ta. May mà đến năm 1956 ta kịp thời dừng lại…

“Đánh thuế công thương nghiệp, cải tạo tư sản cũng là do Trung quốc đề ra. Hậu quả là hơn một triệu người di cư vào Nam. Ta đổ tội cho Pháp, Mỹ, điều đó chỉ đúng một phần nào, còn là do ta làm vội, làm ẩu, đánh tràn hết. Không phải địa chủ mà phú nông, thậm chí trung nông cũng đánh. Đảng viên nhiều người tốt cũng bị đánh. Kết quả của những chính sách, cải cách lúc đó là như thế”. (Đàn chim Việt online ngày 4-7-2010)

Ngưng trích

Viết đến đây chúng tôi xin được đặt một câu hỏi: Như thế là Bác Hồ có tội hay có công? Đảng cộng sản có tội hay có công? Trước 1975: Toàn miền Bắc - Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa - lạc hậu, nghèo đói đã rõ ràng quá rồi. Đến sau 30 tháng Tư 1975 lại gây cho Miền Nam điêu đứng. Không kể hàng trăm ngàn người già có, trẻ có, cũng tạm gọi được là thành phần ưu tú của xã hội phải vào tù cải tạo. Ngoài ra thì dù người nghèo nhất cũng chưa đến nỗi phải ăn độn. Chỉ sau 30 tháng Tư 1975 thì cả nước khoai mì, khoai lang, bo bo cũng không đủ để mà ăn. Bất kể lớn, bé, già, trẻ tiêu chuẩn mỗi ngày được bao nhiêu gờ ram gạo, bao nhiêu gờ ram khoai... Đi đâu thì cha mẹ. con cái phải bọc theo phần ăn của mình, không ai ăn lấn sang phần của người khác được... Thấy sao nó bần tiện quá sức! Vậy mà ngày còn ở trại tù cải tạo Z30C Hàm Tân, Thuận Hải chúng tôi đã đọc được một cái "băng rôn" đỏ viết chữ vàng căng ngay ở cổng trại như thế này: "Vẻ vang thay đảng cộng sản Việt Nam, người đã tổ chức và lãnh đạo thành công cuộc cách mạng Việt Nam"! Tôi nghĩ bụng đúng là bọn Việt cộng dốt nát, mặt trơ trán bóng, khoe khoang thế mà không biết nhục! Đang mặc quần áo đàng hoàng nay chỉ còn có cái khố mà vẻ vang cái gì?!!!

Hôm nay đã là 24 tháng Tư, chỉ còn 6 ngày nữa đã là 30 tháng Tư, ngày đen tối nhất trong lịch sử Việt Nam. Tôi viết bài này đê tưởng nhớ đến những người đã khuất vì biến cố 30 tháng Tư 1975 và tưởng nhớ những bạn bè của tôi đã chết trong các trại tủ cải tạo. Sau là cầu xin Liệt Tổ Liệt Tôn sớm hiển linh dẹp đi cái đám bất nhân thất đức này giúp cho cuộc sống của con cháu sớm được bình an. Mong lắm thay!


Người & Dế

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến (Danlambao) - Nhiệt độ thời tiết thay đổi đột ngột như thân nhiệt của một người mang bệnh sốt rét. Mới sáng bữa trước trời còn lành lạnh và nhạt nắng; qua sớm bữa sau nắng đã chuyển màu vàng sậm và trời thì hâm hấp nóng. Tới trưa thì nóng như hun. Tôi mở cửa bước vào xe mà tưởng như mình bước chân vô cái lò bánh mì. 

Người dân bản xứ bỏ giầy, bỏ vớ, bỏ luôn quần trong, áo ngoài; họ chỉ còn đeo lại vài mảnh vải nhỏ xíu trên người, đi lơn tơn ở ngoài phố, gặp nhau họ chào hỏi hớn hở và gật gù nhận xét thú vị “’The summer’s coming !” Mùa hè thiệt sao? Hè ở đâu mà tới một cái rào vậy kìa? Có cái gì đột ngột, mới mẻ quá khiến cho một thằng dân ti nạn khó tránh được đôi chút ngỡ ngàng. 

Tự nhiên tôi nghĩ đến cảnh một anh chồng, sống vào Thời Thượng Cổ, có sáng thức dậy – trước khi cầm giáo mác đi vào rừng – đứng tần ngần nhìn quanh quất đất trời một lát rồi quay vào nhà lay vai vợ: “Nè em, bắt đầu từ sáng nay là bước qua Thời Trung Cổ rồi đó nha, dậy sớm một bữa đi để đón chào một thời đại mới!” Nghĩ chơi và nói cho vui vậy chứ chưa chắc bất cứ cái gì mới đều được đón chào. Đôi khi căn nguyên của sự khó chịu nằm ngay ở chỗ mới mẻ đó. 

Tôi sinh trưởng trong một xã hội nông nghiệp. Tôi quen và ưa thích một nhịp sống chậm. Khi khổng khi không đời đẩy tôi vào đất lạ xứ người. Tôi trôi dạt đến những thành phố kỹ nghệ và đô thị hóa ở mức cao độ. Nơi đây sự mới mẻ có hoài hoài, mọi thay đổi đều đột ngột và nhanh chóng khiến tôi thấy mệt. 

Mùa Hè xứ lạ không tới đơn thuần, giản dị với cái nhận xét: “The summer’s coming!” Nó tới cùng thì đủ thứ chuyện lôi thôi phiền phức khác. “Hàng mùa Đông bán ‘sale’ hà rầm!” Những món hàng được chụp hình mầu cẩn-thận, ghi giá biểu rõ ràng trên những tờ báo quảng cáo – không biết từ đâu – cứ rớt vô nhà đều đều. Bên cạnh hàng mùa Đông “sale” thắm thiết là y phục, giầy vớ và những đồ trang bị cần thiết cho mua Hè. Hàng mới thì không “sale” nhưng cũng “discount” dữ lắm ! 

Cái quần tắm giá thường tới bốn mười đồng; tự nhiên bớt còn có ba mươi đồng bạc. Không mua thiệt uổng hết sức. Cái áo choàng lông con gì đó, hồi mùa Đông bán tới ba trăm; bây giờ đại hạ giá còn có hai trăm. Hai trăm mỹ kim, sao rẻ rề và ít xịt hà! 

Tôi thiệt là đang sống ở một thời đại và một nơi mà ai ai cũng có quá nhiều cơ hội để tằn tiện và tiết giảm sự chi tiêu. Vậy mà, không hiểu tại sao, ai cũng mang công, mắc nợ. Có lẽ người ta không nên sống theo nhịp “sale” của thị trường. Kẹt nỗi cuộc đời nơi đây bị mấy thằng chó đẻ nào đó “set” như vậy rồi. Sức người có hạn. Khó ai “reset” được những gì đã “set”. Do vậy, thiên hạ cứ theo đó mà sống dở và chết dở. Tôi cũng đang dở sống, dở chết như hàng bao nhiêu thằng cha và con mẹ ngu ngốc khác ở quanh mình. 

Lâu lâu tôi cũng chợt – nhận ra rằng mình đang chết dần, chết mòn, chết lắng, chết thắm, chết dấm dúi và chết chắc ở nơi xa lạ này. Tôi cũng muốn phản kháng lắm nhưng không nổi. Tôi chỉ có được những phản ứng tiêu cực mà thôi. 

Thỉnh thoảng tôi vẫn thường bỏ cái cuộc đời mình đang sống, con đường mình đang đi, nhẩy lên bờ lề ngồi. Tôi ngồi nghỉ một lát chớ không mệt tắc thở. Tôi thường ngồi hồi tưởng lại tuổi thơ của mình chơi. Cả đời tôi chỉ có những năm thơ ấu là coi được được… 

Khi mà mùa hè bắt đầu ở nơi đây thì ở quê tôi mùa mưa đang đến, mưa đầu mùa. Mùa mưa có dế. Chao ơi, là dế! Tôi nhắc đến tên loại dế và những kỷ niệm ấu thơ của mình mà thấy bâng khuâng buồn nhớ như nghe có ai nhắc đến tên một người tình lỡ, vào thuở đầu đời. 

Sau một buổi chiều mưa thành phố tôi ở thường tươi mát như vừa được tưới, sạch sẽ như mới được lau. Tay cầm một cái hộp giấy, chân bước mải mê dọc theo những cột đèn, chăm chú cúi đầu tìm kiếm. Thoáng thấy một cái chấm đen nho nhỏ đang di động là tim lại đập hụt đi một nhịp, khấp khởi mừng thầm, hồi hộp, hớn hở chạy nhào người tới: một con dế mái ! Thiệt là thất vọng não nề và những cú thất vọng kiểu này có đều đều trong một đêm. Phải chịu khó đi hỏi, đi suốt đêm thì may ra mới tìm được một hai con dế trống. 

Mà được đi như vậy là may đó nha. Đâu phải chiều nào trời cũng mưa. Chiều không mưa là tối không có dế bay. Có đi dọc theo một triệu cái cột đèn thì cũng chả tìm được một chú dế nào. Một buổi chiều không mưa, giữa những ngày mưa đầu mùa, là một đêm vất vả cho những mái đầu xanh vô tội. Thế nào rồi cũng phải kiếm chuyện để xin mẹ cho bằng được một đồng, mua nến. Sau đó, làm bộ xuống bếp đứng sớ rớ chơi; đợi đúng lúc không ai để ý là chớp cái hộp quẹt bỏ túi rồi len lén biến ra khỏi nhà giữa lúc đêm thâu. 

Nơi đến thường là một cái vườn rau, nếu gần nhà không có cái vườn rau thì đành phiêu lưu vào bất cứ một cái cánh đồng cỏ nào. Tới nơi rồi là phải lắng tai nghe ngóng cho đúng hướng, bước lần dò thật êm, thật nhẹ. Chỉ cần hơi mạnh chân là con dế mất dạy im bặt tiếng liền. 

Lại phải ngồi xuống, ngồi yên một nơi, nín thở đợi chờ, chờ cho đến khi con dế tiếp tục phùng cánh gáy. Ước lượng khoảng cách, thẩm định vị trí xong, nhè nhẹ thắp nến lên, một thằng câm nến, một thằng quì nhào người xuống bụi cỏ, hai tay vạch bắt tìm kiếm May lắm thì mới lật được ngay chóc, bắt một cái dính liền, nếu không thì lại công toi ! 

Lỡ mà nhằm khi “gia đình có việc”. Bố mẹ khó khăn nghiêm khắc thấy rõ, đi đêm về là chắc chắn ăn đòn chứ chả có dọa dẫm lôi thôi gì cả. Kẹt vậy thì tôi đành phải bắt dế ban ngày – vô vọng hơn nhiều. Ban ngày dế ít khi gáy lắm. Tha thẩn hết gò này sang đồi khác, gặp cục đá bự nào cũng ráng lật, thấy bất cứ cái gì có thể che được một con dế đều bới ra, và năm thì mười họa tôi mới thấy được một con dế thiệt. Không có gì vất vả bằng đào bắt dế hàng. 

Đất mềm thì cuốc. Cuốc ấm ớ đụng đâu cuốc đó thì chỉ toàn thấy đất. Cuốc lạng quạng thì đứt đầu con dế như không. Đất cứng thì chỉ có mỗi một cách chơi, đổ nước xuống hang. Hai ba thằng mở nút quần, thi nhau đái, đái hết, đái hết nước cũng chưa chắc đã ăn thua. Thường thì thế nào cũng phải chạy đôn chạy đáo tìm cho được năm mười lon sữa bò nước nữa đổ cho ngập miệng hang mới được. Tới đây rồi thì rắn cũng phải bò ra chứ đừng nói chi là dế. 

Và đây cũng là lúc phiền hà. Cũng như cái chuyện người lớn làm cách mạng, trẻ con đi bắt dể phải tuyệt đối thân và tin nhau. Mọi giao hẹn chia chác đều phải phân định trước một cách rõ ràng. Nếu không thì lại xẩy ra chuyện oa xịt thằng này, nghỉ chơi thằng nọ, thanh trừng hàng ngũ hoài hoài. 

Nhiều thằng nhiều con thấy dế là tối cha nó mắt lại. Thế là dành giựt, mẻ đầu, u trán tùm lum. Một con dế bắt được tại hang quí lắm chớ chơi sao. Chụp giựt lạng quạng nó còn có một giò thì có mà tiếc ngẩn người. Khi đã chụp dính con dế về phần mình rồi, hé hé ra coi, chi cần thấy nó đứt mẹ một cái râu là tôi cũng cảm thấy muốn đứt ruột. 

Để có một con dế thực sự ngon lành thì điều kiện tiên quyết là phải cồ, giò cẳng chửng chạc, râu mắt, râu mép còn nguyên. Mùa dế chắc chắn sẽ sinh động và đầy đủ hơn nhiều khi sở hữu một con dế có đủ những tiêu chuẩn vừa kể. 

Có vô số việc phải chăm lo và chăm lo một cách say mê thích thú. Trước hết là hộp đựng. Cái hộp bánh LU thấy thì tuyệt đẹp nhưng mà sợ là dế không thích lạnh. Hộp “fromage con bò cười” thì được quá, nhưng nếu có cái hộp “calcium corbière” thì được hơn nhiều. Rộng rãi và thoáng mát, nơi ẩn trú lý tưởng cho loài dế. Bên trên đục chừng mươi, mười lắm lỗ cho dế thở. Ở dưới rải một lớp đất mỏng cho có hơi đất. 

Tất nhiên là thằng nào ngu lắm mới quên cho vào đó một hai cọng giá hay một cuống xà lách thật non và thật tươi. Đừng có cho dế ăn cơm, bụng nó sẽ dài ra và mau biến thành sâu rọm! 

Một mùa hè mà bắt được chừng hai ba trự dế nhứt xóm thì sách vở coi như là tôi vứt. Có ráng tới trường thì chỉ là để chờ giờ ra chơi. Đá dế. Đá cho nó đã. Đá dế phục thù. Thù hằn có đâu từ mùa dế trước khi mà mình không có cái may mắn bắt được một con dế ngon lành như hiện tại. 

Mỗi đêm trước khi đi vào giấc ngủ, hồi tưởng lại những pha gay cấn nhất trong ngày mà còn thấy đã. Con dế mình càng rộng, đi sát đất, thúc mạnh, nghiến dai, quay mình lẹ như chớp. Bảnh cỡ đó lấy cái gì ra mà không ăn con nhà người ta. Sáng sớm thức dậy đã nghe tiếng gáy vang dưới chân giường. Lại một ngày hạnh phúc nữa. 

Hạnh phúc ở đâu ra mà dễ dàng và lảng xẹt vậy trời. Mà có liền liền nữa chớ. Năm nào mà không có mùa dế. Năm nào mà thiếu mùa nuôi chim nuôi cá. Thiệt là quanh năm ăn chơi mệt nghỉ. 

Phải chi người ta nhỏ hoài thì đâu có ai ngán cái kiếp người. Nhưng mà đâu có ai “nhỏ” hoài được. Tự nhiên là con người cứ lớn ào ào dù chắc thiệt tình là không ai thích. Và khi đã lớn là tuổi thơ giã từ cuộc đời. Tuổi thơ ra đi mang theo hết cả dế, chim, diều, cá và hàng ngàn thứ đồ chơi tuyệt vời khác. 

Tôi đi một cái rột từ tuổi thơ đến tuổi già. Tôi không có tuổi trẻ nên không biết cái tuổi trẻ đầy đủ trọn vẹn an bình – thực tình – nó ra sao ? Tuổi trẻ của tôi và những thằng như tôi chỉ có những phản ứng hóa học trừu tượng; những công thức toán khô khan mà chúng tôi phải ráng nuốt sống để đi thi. Sau đó là những ngày quân trường đổ mồ hôi, chiến trường lai láng máu. Giữa những khoảng thời gian khó sống này là những khoảng trống nằm thoi thóp trong những căn phòng ngủ rẻ tiền với rượu, với cần sa, ma túy và gái điếm rồi cái thứ tuổi trẻ xa lạ này chấm dứt trong một trại tù binh! 

Trại tù binh hay trại cải tạo thì thôi hết nói. Ở đây thì không có tuổi cũng không có tên. Tên tuổi làm gì ở một nơi mà người ta cố ép con người thành những con vật đói. Hú vía là tôi đã chạy thoát khỏi nơi đó. Rồi tưởng sao? Bây giờ thì tôi sa lầy nơi góc bể chân trời. Cái vũng lầy này coi bộ không dễ dẫy và không dễ thoát. Phần đời còn lại chắc cũng cầm bằng như nước chảy hoa trôi. Thôi, kệ mẹ nó muốn tới đâu thì tới. Thiệt uổng là đời người chỉ cuốn tới chứ không có cái vụ de lui; nếu không, tôi đã trở lại quãng đời thơ ấu của mình rồi. 

Tuổi thơ – trời ơi – tôi biết tìm nó ở đâu bây giờ. Những con dế ấu thời thì lại càng biệt vô âm tín. Sống ở một thành phố kỹ nghệ nhìn đâu đâu cũng toàn thấy nhựa đường và ciment thì tìm đâu cho ra con dế. Ráng lắm thì cũng chỉ thấy được con dán mà thôi. Mà dán – nói thiệt – hồi nhỏ tới giờ tôi không hề giao du với cái con vật kỳ cục này. Nó làm phiền người ta chết mẹ. 

Thôi cũng đành. Adieu con dế! 

Vẫn còn là những câu hỏi 30/4 sau 43 năm (P2)

Nguyễn Thị Thanh Bình (Danlambao) - Nhà văn Dương Thu Hương không những đã trả lại đúng tên gọi cho Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Đông năm xưa, mà tác giả cuốn truyện dài gây chú ý "Thiên Đường Mù" cũng đã nhỏ lệ bên hè phố Sài Gòn khi nhận ra mình đã bị đánh lừa và tọng đầy những chiếc bánh vẽ như sau:"Khi vào đến Sài Gòn, chúng tôi mới hiểu rằng XH Miền Bắc là một XH cấu trúc man rợ: mỗi tháng được nhà nước phát cho từng bó cỏ, con "người" không còn là người nữa, mà dưới người!" 

Và rồi bây giờ chúng ta lại ngồi đây, để nghĩ về 30/4/75 với một tâm cảm đáng ra phải như thế nào? Liệu sau 43 năm đã quá đủ, để những con người của ngày hôm ấy đã không còn trẻ nữa, hoặc đã già nua cho ngày hôm nay vẫn cứ hãnh tiến xuẩn ngốc rầm rộ ăn mừng chiến thắng, trên những quặn đau, tan hoang, mất mát của toàn dân hai miền Nam Bắc lòng người vẫn ly tán? 


Nhà thơ Hoàng Vi Kha: Nghĩ về 30 tháng 4: trả lại sự thật của lịch sử để học lấy những bài học vô giá về các chủ thuyết mị dân, không thực tế, về tầm quan trọng của nền dân chủ, tự do trong xã hội và vai trò / vị trí tương quan trên trường quốc tế. 

Rầm rộ ăn mừng chiến thắng chính là: 1. hành động chứng minh “hòa hợp, hòa giải” chỉ là ngụy ngữ, 2. tiếp tục nhồi sọ người dân và thế hệ sau những luận điệu tuyên truyền, bẻ cong lịch sử để nhằm tự tôn vinh và củng cố quyền lực cai trị, 3. tiếp tục làm băng hoại nền đạo đức nhân bản thay thế bằng kiểu đạo đức giả (như tràn lan các mặt hàng giả hiện nay) từ đó sản sinh là những kẻ phục tùng / toa rập vì quyền lợi. 

Nguyễn Thị Thanh Bình: À... vậy thì bạn có nhớ ngày hôm đó 30/4 (phải gọi đúng tên gọi là gì nhỉ, hay có khi chỉ là những vần thơ Tháng Tư Đen mà bạn muốn chia sẻ?) khi Miền Nam VN bị đồng minh bỏ rơi và thất thủ, trong khi Miền Bắc VN thì cứ một mực vượt Trường Sơn, vạch dòng Bến Hải ngăn chia để xé rào tràn vào "đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào" hoặc "đánh cho chết đến người Việt Nam cuối cùng" thì toàn cảnh lịch sử đó, bạn đã ghi nhận được những gì, và lúc đó bạn cùng gia đình đang làm gì, ở đâu và ra sao? Chắc bạn còn nhớ cảm giác của mình hoặc gia đình ngày hôm ấy, rồi thì những ngày sắp đến và đã đến sau đó của thời điểm ấy, bạn đã sống như thế nào? 

Nhà thơ Hoàng Vi Kha: Nhớ cái gian ác xảo quyệt đầu tiên: “đem theo vật dùng cho 30 ngày”. Khi từ giã ra đi, cha dặn dò “mỗi ngày xé 1 tời lịch, đếm đúng 30 tờ thì cha về”. Nhưng cha đi “mút mùa lệ thủy” 10 năm thay vì 30 ngày. 

Từ sau đó là những chuổi dài liên tục của thống trị bằng gian ác, xảo quyệt và bạo lực. 

Nguyễn Thị Thanh Bình: Thật ra để phải mở lại lòng mình như mở lại những trang ký ức buồn bã xót xa, hoặc nhiều phần là không vui nổi, những người bên này hoặc bên kia chiến tuyến không lẽ cho đến lúc này không nhận ra được lời thú tội phũ phàng của Lê Duẩn: “Ta đánh đây là đánh cho Nga cho Tàu”? Và như thế, khi lật lại những trang quân sử đớn đau bi tráng của 30/4, hay mới đây là mốc điểm tưởng niệm của “50 năm thảm sát Mậu Thân Huế”, liệu có làm chúng ta tự hỏi đã đến lúc mình cần phải hành xử như thế nào để xứng đáng đáp đền linh hồn của những anh linh VN? 

Nhà thơ Hoàng Vi Kha: Thế hệ trước: Chép lại / kể lại / truyền lại những sự thật / sự kiện của cuộc chiến. Chép lại / kể lại / truyền lại những nền mống xây dựng một xã hội dân chủ, xây dựng những con người đầy nhân bản / nhân văn. Chép lại / kể lại / truyền lại những kinh nghiệm / những sai lầm đều là những bài học đã đổi bằng bao xương máu nhưng sẽ tránh được bao máu xương phải đổ về sau. 

Thế hệ sau: Mở tâm để hiểu, để cảm thông, để khơi và giữ tình “đồng bào”, tình đất nước. Mở trí để sáng suốt nhìn vào di sản sự thật / lịch sử / bài học từ ông cha từ thế giới / kiến thức nhân loại và soi vào hành trình tương lai. Mở gan dạ để tiếp nhận, gánh vác, bước tiếp. 

Khi đem lại tự do, dân chủ, độc lập cho Việt Nam là khi đáp-đền / tẩy gội oan khiên được cho linh hồn của những người đã chết cho tự do, dân chủ, độc lập. 

Nguyễn Thị Thanh Bình: Nhiều quý vị trong chúng ta nói rằng, những con dân gốc Việt ở quê người không phải là không có tấm lòng cho quê hương mà hẳn nhiên là trái lại, có điều họ quên mất vai trò của mình là đã được quá an toàn tự do, khi kêu gọi những người dân thấp cổ bé miệng ở quê nhà phải biết hành động đứng lên đòi lại tự do cho chính mình. Nếu đồng bào ở ngoài nước chỉ đóng vai làm người ủng hộ, và hơn thế nữa cũng chẳng có cơ hội gì để có thể mong muốn xây dựng phát triển đất nước mình một cách thiết thực. Vậy theo bạn chúng ta phải làm gì để góp phần vào công cuộc dân chủ hóa một đất nước đã ù lì, lì lợm không hề muốn rủ bỏ thay đổi, khi mà chính Mahatma Ghandi, thủ lãnh của đường lối BBĐ cũng đã nói: “Hãy trở thành chính sự thay đổi mà bạn muốn nhìn thấy trên thế giới này”? Thử hỏi bạn có muốn được làm một nhà văn chân chính hay đơn thuần là một công dân đúng nghĩa đang muốn lên tiếng cho những thao thức trăn trở cần thiết, cho một đất nước đang có quá nhiều thiếu vắng về quyền được nói, được tỏ bày biểu đạt của tự do ngôn luận, tự do báo chí? 

Nhà thơ Hoàng Vi Kha: Tuổi trẻ tại hải ngoại: sanh / trưởng tại các quốc gia có nền tự do, dân chủ họ được giáo dục từ nhỏ rằng: Freedom is not Free. Không thể trông chờ vào ai mà chính mình phải tự đấu tranh cho điều mà mình mong cầu. Trong bóng tối trước tiên phải tự khơi lên ngọn lửa thì người ngoài bóng tối mới nhìn thấy mà tương trợ. Do vậy, ở bất kỳ nơi nào, để có thay đổi / cách mạng / chuyển hóa cũng là do người trong nước đóng vai trò chủ động và chính. 

Tuổi trẻ tại hải ngoại hấp thụ được các luồng tư tưởng tự do, tự chủ thì cần trau dồi thêm tình tự dân tộc / cội nguồn. Đây lại là điều truyền lại từ thế hệ đi trước. Tình yêu dành cho đất nước Việt Nam, cho người Việt Nam cần phải có sự “đầu tư” đúng của thế hệ đi trước (gia đình luôn quan trọng) và của thời gian gắn bó để bồi đắp. 

Tuổi trẻ / thể hệ người Việt tại hải ngoại vẫn có rất nhiều cách để tiếp tay / hổ trợ / đồng hành với người Việt trong nước. (khai trí / lá phiếu cử tri tại nước sở tại / tham chính / luật pháp quốc tế / truyền thông v.v... rất nhiều hình thức để giúp và đấu tranh thì phải đa diện, linh động / linh hoạt không chỉ ở một mặt trận). 

Nguyễn Thị Thanh Bình: Còn một câu hỏi chót, và câu này dường như được gợi ý từ câu nói rất đậm đà ý nghĩa của một Thiếu tướng khá trẻ và tài giỏi của quân lực Hoa Kỳ, hiện được biết đang đóng quân ở Nam Hàn, xin hân hạnh không chỉ muốn được hỏi Tướng Lương Xuân Việt rằng: Liệu có phải Thiếu tướng muốn nhắn nhủ điều gì thầm kín với tuổi trẻ Việt Nam khi thổ lộ: “… tôi cũng rất may là đã mang dòng máu dân tộc vốn có 4000 năm văn hiến, và trong máu tôi có dòng máu của Quang Trung, Lê Lợi, Trần Hưng Đạo và Ngô Quyền:? Phải chăng tuổi trẻ Việt Nam lúc này đã không còn được dạy dỗ môn học lịch sử ở trường lớp, để được ôn lại những trang sử hào hùng của dân tộc nên dần dà đã lãng quên cả những giấc mơ nhỏ nhoi được làm người, nói chi đến (giấc) “Mơ Làm Người Quang Trung” như thông điệp gởi gấm của một tựa sách Duyên Anh, khi đất nước đang đến hồi lâm nguy và tháng 4 đen với những bản án nặng nề của những tù nhân lương tâm gia tăng ở mức độ khùng. Không lẽ chúng ta không đồng ý là chế độ độc tài CSVN đã thua sạch sành sanh trong Hòa Bình, và ai sẽ là người phải biết hóa giải lòng mình trước hết? 

Nhà thơ Hoàng Vi Kha: Sự thờ ơ / vô cảm / hèn nhát ở ngày hôm nay là hậu quả của những chuổi dài liên tục việc “trồng người mới XHCN” của kẻ thống trị. Cho nên, cần vun trồng lại nhân bản, đức / trí / thức, vun trồng lại từ trong mỗi gia đình. Cần tạo nhiều những liên kết, từ ít tới đông hơn, tới lớn hơn để trở thành nguồn lực bảo vệ chân lý / chân thiện mỹ, đối đầu với những âm mưu / thế lực phá hoại và đàn áp con người. Khi có nhiều những người như thế tức sẽ tự nhiên có lại những Trưng Vương, Ngô Quyền, Hưng Đạo, Quang Trung... và có lại / xây nên một đất nước độc lập, phú cường, có khả năng đương đầu với bất kỳ kẻ xâm lược nào. 

Những bản án nặng nề ấy chỉ chứng tỏ nỗi sợ hãi của bạo quyền. Khi chỉ vài người / vài chục người thì bạo quyền có thể dễ dàng đàn áp / bắt bớ. Nhưng khi tăng thành hàng ngàn / chục ngàn / triệu người thì chắc chắn sẽ không còn “tù nhân lương tâm” vì bạo quyền sẽ không còn có thể tồn tại. 

*

Trả lời của nhà thơ Lưu Trọng Văn: 

Thể theo lời yêu cầu của nhà thơ Lưu Trọng Văn, xin coi đây là câu trả lời cho các câu hỏi ở trên: 

Tôi nghĩ chúng ta cùng khép lại quá khứ. Tôi không thể trả lời các câu hỏi này vì tôi không thể và không muốn đứng về bên này hay bên kia khi cả hai bên trong quá khứ và có thể cả trong hiện tại ấy chỉ là một- máu thịt của tôi, và sẽ mãi mãi là một trong tương lai mà chúng ta cùng phấn đấu vì một dân tộc, một quốc gia hùng cường. 


Trả lời của nhà văn Liêu Thái: 

1. Có một điều dễ nhận biết, sau gần nửa thế kỉ trôi qua, những gì nhà văn Dương Thu Hương từng nói có vẻ như cũ đi về mặt chữ nghĩa nhưng vẫn mới về mặt nội dung. Câu chuyện ăn mừng của “bên thắng cuộc”, tôi nghĩ điều này hoàn toàn phụ thuộc vào tầm nhận thức cũng như vốn liếng nhân văn của mỗi chế độ chính trị. Tôi có một người cậu ruột là liệt sĩ Cộng sản và cha tôi là một sĩ quan cấp Tá quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Và cho đến bây giờ, trước lúc vĩnh biệt con cháu, bà Ngoại tôi vẫn đau đáu không tìm được nắm xương của con mình cũng như bản thân tôi, hơn 40 tuổi vẫn thèm được cảm giác cha gọi cho cái bánh vì ông rời bỏ mẹ tôi lúc tôi mới 4 tháng trong bụng mẹ để chạy trốn nỗi sợ vô hình sau 1975 (có thể ông sợ tôi liên lụy sau này chăng!?). Chiến tranh, đó là nỗi đau khốc liệt, tàn nhẫn. Nhưng đùa vui, reo mừng trước đống tro chiến tranh là một trò đùa thiếu nhân tính. 

2. Tôi không có ký ức về ngày 30 tháng 4 bởi tôi sinh sau mốc lịch sử này, những gì cảm nghiệm về thời điểm ấy, với tôi chỉ thông qua sách vở, tư liệu. Nhưng điều đó không có nghĩa là tôi thiếu thực chứng. Bởi thời thơ ấu của tôi là thời của (xin lỗi) cứt trẻ con còn nguyên hạt bo bo, hạt kê hay hạt ngô mẻ. Và những người thương binh phía bên kia chống nạn đi xin ăn ở các bến xe, họ bị hất hủi, đau khổ, họ không có lối thoát. Thực sự, đó là chấm đen khó phai trong não trạng tôi. Và đáng sợ hơn là tôi từng chứng kiến mẹ tôi chửi những kẻ “trở cờ”. Bà từng chửi người anh chú bác ruột của bà về việc trước 1975, ông là một viên chức VNCH, sau 30 tháng 4, ông ta mặc áo quần bộ đội, mang súng đi kiếm kê tài sản từng nhà… Trong đó, ông cũng không quên “tẫng” luôn lý lịch gia đình liệt sĩ của bà Ngoại tôi (bởi ông cầm giấy báo tử của chi khu gửi về cho bà ngoại tôi và đi khai cho chính gia đình ông, hiện tại, ông vẫn đang hưởng chế độ dành cho thân nhân liệt sĩ mặc dù ông không phải ruột thịt). Và đương nhiên, ông ta không phải là Cộng sản nằm vùng, ông ta chỉ là kẻ “trở cờ” trong khuynh hướng phù thịnh của một kẻ giảo hoạt. Hiện tại, cuộc đời ông ta cũng chẳng mấy hay ho gì, nghĩa là một kết cục bi đát. Nhưng trả giá cho cái kết cục bi đát của kẻ trở cờ là hàng trăm số phận bị vùi dập để rồi chính y cũng chả ra gì. Và hình như thời nào cũng có kẻ trở cờ theo nghĩa này hoặc nghĩa khác! 

3. Câu hỏi rất hay và mang nhiều gợi mở. Nhưng có vẻ như người đặt câu hỏi kì vọng quá lớn vào số đông nhân dân trong lúc những kẻ có thế lực và có khả năng qui tụ đám đông lại rất mê Tàu, mê Nga, hiện trạng đất nước hôm nay đã cho thấy Lê Duẩn nói đúng. Ông ta nói quá đúng và ông ta cũng nhìn người Việt đầy thực dụng (nhưng sâu sắc, bởi chí ít ông cũng không lý tưởng hóa tâm tính người Việt). Và câu chuyện ngày hôm nay, nếu ai thực sự đau lòng cho dân tộc, sẽ thấy người Cộng sản họ không nói sai, bởi họ đọc ra căn tính dân tộc và vận dụng, bẻ lái nó một cách khôn khéo chứ không nhân văn hay lý tưởng hóa dân tộc. Trên nghĩa này, họ đã đúng và đã thắng! 

4. Trích câu hỏi “…Thử hỏi bạn có muốn được làm một nhà văn chân chính hay đơn thuần là một công dân đúng nghĩa đang muốn lên tiếng cho những thao thức trăn trở cần thiết, cho một đất nước đang có quá nhiều thiếu vắng về quyền được nói, được tỏ bày biểu đạt của tự do ngôn luận, tự do báo chí?...”. Theo tôi, một nhà văn chân chính hay không chân chính, điều này thuộc về nhận xét của độc giả và nó phải qua thử thách của thời gian với tác phẩm. Vấn đề chân chính hay “ngụy chữ” không thuộc về lựa chọn đứng bên này hay đứng bên kia mà nó thuộc về tâm tính, hay nói xa hơn chút là lương tri nhà văn. Nếu người viết không viết ra từ những xung động tâm hồn và ray rứt lương tri thì cái anh ta/chị ta/ông ta/bà ta/y/thị… viết ra khó có thể gọi là tác phẩm. Mà rung động hay ray rứt lại thuộc về thế giới của tâm cảm, của bản năng và tư tưởng. Nên chỗ này, nhà văn không thể lựa chọn mà chính văn chương, tác phẩm và lịch sử sẽ xếp họ vào loại người nào, tác giả gì… Họ có muốn sắm vai chân chính nhưng tâm hồn họ lại rặt những mưu toan thì điều ấy có thể che mắt độc giả được vài năm, vài chục năm nhưng không thể lâu hơn. Tôi nghĩ vậy! 

5. Tôi là người cầm bút, và điều tối kị của người cầm bút là “mặc cảm AQ”, tôi không bao giờ nói rằng người Cộng sản đã thua sạch sành sanh trong Hòa Bình. Bởi thắng hay thua là do tiêu chí, mục tiêu và lý tưởng đặt ra của mỗi bên. Những người lấy tiêu chí vật dục làm mục tiêu hướng đến thì đất nước rối ren và sợ hãi, nhân dân càng mù mờ về đạo đức cũng như đời sống càng khốc liệt, càng thiếu nhân văn bao nhiêu thì họ chiến thắng bấy nhiêu, bởi đó là mục tiêu họ cần đạt. Và chúng ta, chính những con người lấy nhân bản, khai sáng và dân tộc đặt làm mục tiêu hướng đến của dân tộc đã thua. Chúng ta đã không đạt được mục đích của mình một cách ê chề, đau đớn, đó là sự thật. Chúng ta tự thấy mình thua trong quá khứ và ngay cả hiện tại, tự thấy mình đã quị ngã xuống mặt đường lý tưởng. Để từ đó đứng dậy hoặc là đi tiếp, hoặc là cắn lưỡi giữ khí tiết một cách thinh lặng, không ồn ào. 

Phần 1:

Thực hiện:

Ơi Người Mẹ Điên ơi!


Hình minh hoạ: Internet




















Phạm Thanh Nghiên (Danlambao) - Buổi chiều hôm ấy, đúng rồi, là một buổi chiều muộn. Tôi nhớ rõ như thế. Mẹ tôi quẩy đôi quang gánh trên vai, tay dắt theo một người đàn bà điên. Đúng là người đàn bà từ sáng tới giờ vẫn quẩn quanh ở khu tập thể này, vừa đi vừa nói nhảm. Thỉnh thoảng lại cúi xuống nhặt bất cứ thứ gì chị ta nhìn thấy dưới đất rồi bỏ vào miệng. Đôi quang gánh mẹ tôi quẩy về, còn nằm chỏng gọng ra đấy mấy mớ rau muống ế. Thế là bữa cơm tối nay, lại sẽ ăn rau độn.

Lần nào cũng vậy, hễ thấy mẹ về là mấy chị em tôi đều ngó trân trân vào đôi quang gánh. Và hồi hộp đợi chờ. Rồi cảm xúc vui buồn, lo lắng hay mừng rỡ cứ xuôi theo đôi quang gánh của mẹ. Đôi quang gánh nhẹ bẫng với chiếc sảo (1) trống rỗng có nghĩa là mẹ tôi đã bán hết hàng, cả nhà sẽ không phải ăn khoai hay ăn rau trừ bữa. Gương mặt chị em tôi sẽ sáng bừng lên nếu trông thấy thấp thoáng trong cái sảo là con cá, bìa đậu, vài lạng tép săm hay ít thịt mỡ. Bữa cơm hôm ấy có tí chất tanh, sang phải biết. Nhưng ít khi được thế. Buồn nhất là mỗi ngày tàn, mẹ tôi về nhà vẫn gánh theo vài mớ rau chưa bán hết. Ế hàng, cơm còn thiếu lấy đâu cá với tép săm mà ăn. Bao nhiêu nỗi buồn tênh lẫn khấp khởi vui mừng của những buổi chiều muộn cứ bám lấy tôi suốt tuổi thơ như thế. Tôi thấy thương, thương biết mấy nỗi nhọc nhằn của mẹ. Cho đến bây giờ khi đã qua tuổi 40, tôi vẫn không nguôi đắm đuối về căn gác chật chội trong khu tập thể nghèo, nơi bố mẹ và mấy anh chị em chúng tôi sống chật vật nhưng đầm ấm xiết bao.

Hôm nay, mẹ tôi dắt theo người đàn bà điên. 

Không hiểu tại sao mẹ tôi dắt người đàn bà điên, vừa bẩn thỉu vừa hôi hám ấy về nhà? Chị ta cũng không ngoan ngoãn đi theo mẹ tôi đâu. Thỉnh thoảng, chị ta lại vùng vằng, leo được vài bậc thang lại toan chạy xuống. Mẹ tôi phải nịnh nọt, nắm chặt bàn tay nhớp nhúa ấy kéo lên gác. Nhà tôi tận trên tầng 4, chắc chị ta cũng mỏi chân.

Bố tôi ra mở cửa, gỡ đôi quang gánh khỏi vai mẹ. Ông không hỏi vì sao mẹ tôi “tha” người đàn bà điên ấy về. Làm như điều ấy chẳng có gì lạ. Mẹ tôi, tay vẫn không rời người đàn bà điên. Tôi đứng nép vào tường, vừa hiếu kỳ, vừa sợ sệt quan sát từng cử chỉ của mẹ và của người đàn bà ấy. 

Nhiều người, và cả tôi nữa, đã thấy chị ta lang thang, quanh quẩn ở khu tập thể này từ sáng tới giờ. Người ta biết chị bị điên vì trên người mặc độc một chiếc quần lót cắt bằng vải phin màu trắng. Nhưng cái “màu trắng” ấy đã chuyển sang màu bùn đất. Hai quả vú thỗn thệ, chảy xuống tận bụng. Mái tóc từng được uốn xoăn, ngắn đến ngang cằm bê bết những đất và rối bù. Khắp người chị ta bốc lên mùi hôi hám, khăm khẳm hết sức khó chịu. Thỉnh thoảng, chị ta lại đưa tay tự bấu vào đầu vú mình, rồi nhăn nhó vì đau hoặc lại cười khanh khách. Chị ta điên đến nỗi không gợn một chút gì của cái cảm giác xấu hổ về sự loã lồ của mình.

Đầu tiên, người lớn còn bàn tán, hoặc xúm vào hỏi han chị ta. Nhưng chị ta toàn nói nhảm, nói những câu không ai hiểu được. Rồi ai làm việc người nấy, bỏ mặc người đàn bà lem luốc, bẩn thỉu trở lại với sự quẩn quanh, cười cười nói nói một mình. 

Đám trẻ con lẽo đẽo đi theo chị ta, trêu chọc. Bọn thằng Hoàn “bội”, Toàn “béo” còn lượm gạch đá ném vào người chị ta, rồi nhe răng cười khoái chí với nhau. Đến hồi người đàn bà kia đuổi theo, hai đứa nó co cẳng chạy. Thằng Toàn “béo” chạy về đến nhà, đóng chặt cửa lại, khóc tu tu. Thằng ấy chúa nhát. 

Tôi không biết người đàn bà điên kia bao nhiêu tuổi, ở đâu, vì sao mà điên. Tôi ước chừng chị ta khoảng ngoài hai mươi tuổi. Còn tôi, năm ấy (có lẽ) lên 9, lên 10 tuổi gì đấy.

Mẹ tôi kéo người đàn bà điên vào bếp, ấn chị ta ngồi xuống rồi múc từng gáo nước xối lên đầu, lên người chị ta. Mẹ tôi tắm rửa, kỳ cọ cho người phụ nữ không quen biết, lại bị điên, bằng sự tỉ mỉ, ân cần như chăm sóc cho một đứa trẻ.

Chị Phượng từ trên nhà ngó xuống bếp, mỗi lần thấy mẹ tôi múc một gáo nước dội lên người đàn bà điên, lại một lần rên rỉ vì tiếc. Hàng ngày, chị Oanh, chị Phượng sau khi đi làm về đều phải gánh nước từ dưới gác lên tầng 4 cho cả nhà dùng.

- Oanh lấy cho mẹ bộ quần áo cũ trong hòm ra đây.

Mẹ tôi vừa lau mình cho người đàn bà điên, vừa nói với chị gái tôi.

Chị tôi mở nắp hòm, lấy bộ quần áo cũ (vả lại cũng làm gì có đồ mới) đưa cho mẹ tôi. Nhà nghèo, không có tủ nên chúng tôi phải đựng quần áo vào chiếc hòm sắt. Khoảng 20 năm sau, tôi đi tù (vì chống chế độ) cũng đựng quần áo, đồ dùng, và thức ăn vào cái hòm giống như thế.

Người đàn bà điên đã được tắm rửa sạch sẽ. Nhưng chị ta không chịu mặc bộ quần áo mẹ tôi cho mà nằng nặc đòi mặc lại chiếc quần lót cũ bẩn thỉu và ướt nhẹp kia. Nịnh thế nào cũng không được.

Tôi nhớ rất rõ bữa cơm hôm ấy chỉ có duy nhấy món rau bắp cải xào. Mẹ tôi cho người đàn bà điên ngồi cùng mâm cơm. Bà không quan tâm xem thái độ của mấy bố con tôi thế nào. Nhưng từ bố tôi, đến các anh chị hình như không ai khó chịu. Ai cũng coi việc làm của mẹ là bình thường, và mọi người cần đồng tình với điều ấy. Lên chín tuổi, tôi chưa hiểu thế nào là đạo lý. Tôi chỉ đơn giản hiểu rằng, người đàn bà ấy bị điên, mẹ tôi thương nên dẫn về nhà. Thế thôi. Song thú thực, tôi không thể nuốt nổi miếng cơm nào khi ngồi cùng mâm với chị ta. Phần vì khó chịu cái mùi bốc ra từ cơ thể ấy, phần vì sợ. Tôi nhớ như in cảnh chị ta đuổi thằng Toàn “béo” lên tận cửa nhà nó. Vừa đuổi vừa la hét, giơ cánh tay lên đòi đánh thằng bé.

Mẹ tôi đơm cơm vào bát ô tô, trộn ít rau bắp cải xào đưa cho chị ta. Vừa ăn, người đàn bà điên vừa lẩm bẩm “ăn cơm với thịt gà, ăn cơm với thịt gà, ăn cơm với thịt gà...”. Rồi lại cười một mình. Ăn được vài miếng, chị ta vứt bát ngay tại mâm, cơm văng ra tung toé. Chị ta đứng phắt dậy, lao ra ngoài, đập cửa thình thịch rồi la hét ầm ĩ. Mẹ, rồi các chị tôi nịnh nọt cũng không nghe. Cuối cùng, mẹ tôi phải mở cửa cho chị ta đi. Người đàn bà điên lao như bay xuống các bậc thang. Tôi chạy ra hành lang nhìn xuống đất, thấy chị ta (lúc này đã hơi khang khác vì vừa được tắm gội sạch sẽ) khuất dạng về phía đầu hồi khu tập thể. Chị ta xuất hiện trong nhà tôi vào buổi chiều muộn. Và chạy biến đi khi trời vừa chạng vạng tối.

Trong tôi chợt dấy lên sự lo lắng. Rồi chị ta sẽ đi đâu? Có ai nắm lấy đôi bàn tay nhớp nhúa, bẩn thỉu của chị ta như mẹ tôi đã ân cần thế không? Rồi lỡ có kẻ xấu làm hại chị ta thì sao? Liệu người đàn bà điên ấy có gặp lũ trẻ nào nghịch ngợm tai quái, cầm que, cầm gạch doạ nạt như bọn thằng Hoàn “bội”, thằng Toàn “béo” không?

Tôi thôi nhìn xuống gác, trở vào nhà, lại đứng nép vào tường. Một cảm giác buồn tê dại chiếm lấy tâm hồn bé nhỏ của tôi. Bố mẹ và các chị tôi đang đứng ở cửa nói chuyện với cô chú hàng xóm. Cô Loan nhà kế bên nói với mẹ tôi:

- Hình như nhà con này ở gần Ngã Năm (2) thì phải. Nghe đâu bị người yêu ruồng bỏ nên phát điên. 

- Thế gia đình còn ai không? Lang thang như thế, gặp bọn xấu thì khổ. Mẹ tôi hỏi cô Loan, vẻ ái ngại.

- Nào em có biết đâu. Thấy người ta đồn như thế. Mà chị cũng bạo thật đấy, hết đưa ăn xin rồi lại dẫn người điên về nhà. Nó điên, biết cái gì, lỡ nó vung tay đánh mình một cái thì sao. Cô Loan trách mẹ tôi.

- Chị đi chợ về, thấy nó đang nằm ở đầu hồi ấy. Trông tội quá. Mình cũng chỉ tắm rửa, cho ăn bữa cơm thôi. Định hỏi xem nhà nó ở đâu rồi kiếm cách giúp nó tìm lại gia đình. Mà nó chẳng hiểu gì, cứ nói luyên thuyên. Con trai nhà nào mà tệ thế, phải tội chết. Làm hỏng một đời người ta.

Mẹ tôi thở dài.

- Xã hội bây giờ nó thế chị ạ. Hy vọng là con bé đó tìm được về nhà. Từ đây lên Ngã Năm cũng gần ấy mà.

- Ừ, hy vọng thế. 

- Hôm nay ế rau hả chị? Vậy bán cho em một mớ rau muống, mai thằng Tuấn ở nhà nấu. Trưa mai em về ăn cơm.

Mẹ tôi mang cho cô mớ rau vẫn còn tươi nguyên.

- Cô cầm lấy mà ăn, chị em với nhau mua bán gì.

Mọi người lại lục tục kéo nhau vào nhà, ngồi xuống mâm cơm còn đang ăn dở. Mẹ tôi cứ xuýt xoa về người đàn bà điên ấy mãi. Bố tôi, lúc này mới trách:

- Bà làm thế con Liên (3) nó sợ. Lần sao bà có đem người điên nào về, thì cho ngồi ăn riêng. Mà nhà mình cơm ăn còn thiếu, bà cứ rộng rãi quá, con mình khổ. 

- Cũng chỉ cho người ta một bát cơm chứ có gì đâu mà ông cằn nhằn. Năm thì mười hoạ mới gặp một lần. Thấy những cảnh ấy tôi không nỡ. Để người ta ngồi riêng trong khi cả nhà mình quây quần thì thà không cho người ta ăn lại còn hơn. 

Mải lo cho người đàn bà điên, đến lúc nghe bố tôi nhắc “con Liên nó sợ”, mẹ tôi mới sực nhớ ra. 

Bà bước đến bên tôi lúc này vẫn đang đứng mút tay, lưng dựa sát vào tường, hai mắt đỏ hoe chực khóc. Tôi có tật xấu là hay mút tay, nhất là những lúc xấu hổ hay cảm thấy tủi thân. Thói quen mút tay, mãi đến khi học cấp hai tôi mới bỏ được.

Mẹ tôi cười, nửa vỗ về, nửa như chọc quê tôi:

- Trông kìa, có thế mà cũng sợ. Chị ấy bị điên, khổ thân lắm con.

Được mẹ hỏi han, miệng tôi méo xệch, mếu máo. Nhưng tôi không khóc vì sợ mẹ buồn. Với lại mẹ tôi đã nói “có thế mà cũng sợ”, thì tôi phải cố nén. Tôi mà khóc, các anh chị tôi sẽ hùa nhau mà trêu chọc. Thực tình thì lúc ấy, tôi đã bớt sợ hơn, nhưng tủi thân quá. Tôi biết là không nên ganh tị với người điên kia, nhưng tôi đã quá quen với việc hàng ngày được mẹ ôm ấp, nựng nịu mỗi khi bà tan chợ. Hôm nay tôi bị ra rìa. 

Mẹ kéo tôi ngồi cạnh bà bên mâm cơm. Tôi đã quá quen với những bữa cơm chỉ có rau, hoặc khoai độn. Nhưng hôm nay, tôi không nuốt nổi vì cảm giác người đàn bà điên vẫn đang ngồi ăn cùng, dơ dáy và bẩn thỉu.

Mẹ tôi bưng bát cơm thừa của người đàn bà điên lên, định ăn. Bố tôi gàn:

- Bà bỏ đi. Người ta bẩn thỉu, bệnh tật thế, bà còn tiếc.

Mẹ tôi bỏ bát cơm ấy đi, nhưng vẫn tiếc. 

Từ lần đấy, tôi không bao giờ trông thấy người đàn bà điên ấy nữa. Khoảng một năm sau, cũng vào buổi chiều muộn, mẹ tôi (lúc này không còn đi bán rau nữa, mà chuyển sang bán than) vừa về tới nhà, đã khoe:

- Lúc sáng kéo xe than đi qua Cửa Hàng Gạo (3) thấy con bé điên ngày xưa bế một đứa trẻ, đang ngồi cho nó bú.

Sáng hôm sau tôi đi học, thấy người đàn bà điên năm nào đang ngồi trên bậc thềm ở Cửa Hàng Gạo. Trên tay là đứa trẻ sơ sinh. Chị ta đang cho nó bú. Người đàn bà điên ấy không còn mặc độc một chiếc quần lót cắt bằng vải phin nữa. Trên người chị ta là bộ quần áo bảo hộ lao động, cũ kỹ và rách bươm. Bộ quần áo không biết chị ta nhặt ở đâu, hay có người cho. Vẫn là mái tóc xoăn ngang cằm bê bết, bẩn thỉu. Bên cạnh chị ta, đùm túm nào chiếu, nào túi vải với lỉnh kỉnh những đồ dùng chắc chỉ có người điên mới cần đến. Có cả mấy thứ cho đứa bé. 

Tôi ôm chặt chiếc cặp sách, đứng lặng người. Từ xa, tôi cố rướn mắt để nhìn cho rõ đứa bé chị ta đang ẵm. Chợt có mấy người phụ nữ từ đâu đi tới, người thì đá chân chị ta, người khác thò tay vào giằng đứa trẻ. Người mẹ điên gào thét, những âm thanh thống thiết, ghê sợ. Tiếng gào thét không hẳn của một con người. Đứng ở góc này, tôi kinh hãi và bất lực. Chị ta ôm chặt lấy con, ánh mắt trừng lên giận dữ, lẫn vẻ hoảng sợ. 

Tôi run lên cầm cập. Tôi thương người đàn bà điên và căm ghét hai kẻ bắt cóc trẻ con kia. Tôi cũng không biết là mình đã khóc tự bao giờ. Tuổi tôi, tâm hồn bé nhỏ của tôi ngày ấy còn biết làm gì ngoài việc khóc lóc. Nhưng tôi không phải khóc lâu. Hai người phụ nữ kia không phải bọn bắt cóc trẻ con như tôi nghĩ lúc ban đầu. Họ kiếm sống ở khu Cửa Hàng Gạo này, họ quen thuộc với người đàn bà điên. Thỉnh thoảng, họ lại kiếm chuyện trêu chị ta rồi cả bọn phá lên cười với nhau. Họ khoái nhất là chơi trò “cướp con” để được xem cảnh người mẹ điên bảo vệ con mình. Mỗi lần chơi trò “cướp con” xong, họ đều trầm trồ khen “con điên này khôn thật. Đố ai động được vào con nó”. 

Tôi thở phào. Người đàn bà điên ngồi nép vào tường, đôi bàn tay đen đúa ôm con chặt hơn. Đứa bé không khóc, vẫn ngủ ngon lành trên tay mẹ.

Tôi biết về cuộc đời người đàn bà điên qua những câu chuyện người ta bàn tán với nhau. Chị ta bị điên tình. Chị từng yêu say đắm một anh chàng cũng từng yêu chị say đắm như thế. Họ đã định ngày cưới nhưng đùng một cái, anh chàng phản bội người yêu để đi lấy người khác. Đám cưới bị huỷ bỏ. Chị ta phát điên. Từ đó, chị cứ bỏ nhà đi lang thang. Bố mẹ, rồi anh chị em bao phen phải cất công đi tìm. Họ nhốt người đàn bà điên trong phòng. Nhưng chị ta vẫn trốn được ra ngoài để đi lang thang, sống kiếp người điên. Lúc mới phát bệnh, gia đình cũng chạy chữa. Hết đi bệnh viện rồi lại gõ cửa hết ông thầy lang này đến ông thầy cúng kia, vẫn không mang lại kết quả gì. Nghe người ta xúi, bệnh điên là do “ma làm”, ma sợ roi dâu tẩm nước tiểu. Thế là bố và anh trai chị ta trói người đàn bà tội nghiệp ấy vào gốc cây, rồi cứ roi dâu tẩm nước tiểu mà quất. Không thấy con ma nào chạy ra khỏi cơ thể người phụ nữ ấy người. Chỉ thấy mỗi lần bị đánh, người đàn bà tội nghiệp kia lại thống thiết kêu gào đau đớn, người ngợm bầm tím và rỉ máu. Đánh mãi, không hết điên. Rồi cũng chán.

Khoảng một năm trước, gã đàn ông khốn nạn nào đó đã hại chị ta. Người ta điên dại, bẩn thỉu như thế nó cũng không tha. Cái bụng người đàn bà điên cứ lớn dần lên.

Từ ngày có con, chị ta không lang thang xa nữa. Cứ quẩn quanh ở mấy khu chợ, Cửa Hàng Gạo hoặc Ngã Năm. Tức là gần ngôi nhà ruột thịt của chị. Người dân ở đấy kẻ thì cho đồ ăn, người khác cho tã lót hay manh quần tấm áo. Không ai cho tiền vì chị ta toàn xé rách hoặc ném đi. Có con, người đàn bà điên bớt bị người đời đùa ác ý, đánh đập hay ném đá vào người. Tất nhiên ngoại trừ trò đùa “cướp con” của mấy người phụ nữ kiếm ăn gần đấy. Người ta không giải thích nổi vì sao một người đàn bà điên loạn như thế lại có thể yêu con tột cùng như vậy. Nó trong sáng, hồn nhiên và vô cùng vĩ đại. Người mẹ điên ấy, yêu con hơn bất cứ người mẹ bình thường nào. Dường như chị ta dùng toàn bộ sức mạnh và cả sự điên loạn của mình để bảo vệ con, để yêu con.

Thỉnh thoảng, trên đường đi học, tôi vẫn trông thấy chị ta bế con ngồi ở Cửa Hàng Gạo. Mỗi lần như thế tôi lại thấy an tâm hơn. Tôi sợ chị ta đi mất. Tôi sợ không còn trông thấy đứa trẻ. Và mẹ tôi, thỉnh thoảng vẫn mang cho chị ta bộ quần áo cũ, đồ ăn, chai nước hoặc thứ gì đó cho em bé.

Rồi một hôm, trên đường đi học, tôi không còn trông thấy hai mẹ con người đàn bà điên ấy đâu nữa. Người thì nói chị ta được gia đình đón về, nhốt trong nhà. Có người lại bảo chị ta tha con đi lang thang ở một nơi khác. 

Tôi bần thần bao nhiêu ngày. Hình ảnh người đàn bà điên bế đứa trẻ sơ sinh, non nớt trên tay làm tôi bị ám ảnh. Tôi như người mất trí, có lúc lại như người tương tư. Tôi nhớ thương họ. Giá như tôi là người lớn và thật giàu có. Nếu tôi giàu có, và là người lớn thì… 

Ơi người Mẹ Điên ơi! Ơi đứa con khốn khổ ơi!

Xoáy vào tâm can tôi đến giờ.


_________________________________________

Chú thích:

(1) Sảo: Vật dụng được đan bằng nan tre, to khoảng bằng chiếc mâm ăn cơm, nông lòng.

(2) Ngã Năm: Từ Ngã Năm đi ra nhiều con đường. Nhà tôi ở đường Đà Nẵng, cách Ngã Năm chừng hơn một cây số.

(3): Liên: Tên thường gọi của tôi ở nhà.

(4) Cửa Hàng Gạo: Nơi cung cấp gạo, lương thực cho người dân địa phương thời bao cấp.
Powered By Blogger